QUY TRÌNH KỸ THUẬT NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG KẾT HỢP VỚI CÁ RÔ PHI NHẰM GIẢM THIỂU BỆNH CHẾT SỚM TRÊN TÔM THẺ

Thứ năm - 12/01/2023 22:31 1.443 0
LỜI GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây, việc sử dụng các loại thuốc, hóa chất chưa đúng kỹ thuật, sử dụng tràn lan, lạm dụng về hóa chất và kháng sinh đã làm cho môi trường bị thoái hóa, bệnh tật xẩy ra nhiều, làm cho việc nuôi tôm bị gặp nhiều rủi ro, chi phí sản xuất tăng cao làm cho giá thành tôm thương phẩm tăng cao.
Một trong những bệnh thường gặp và gây chết hàng loạt ở tôm nuôi là Hội chứng tôm chết sớm (EMS) hay còn gọi là Hội chứng hoại tử gan tụy cấp (AHPNS). Nguyên nhân gây ra EMS được các nhà khoa học khẳng định là do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus bị nhiễm virus được gọi là thể thực khuẩn (phage) lây lan qua đường miệng vào đường tiêu hóa, sau đó sinh ra độc tố gây tổn thương gan tụy của tôm.
Bước đầu cũng đã tìm ra được phương pháp để giảm tỷ lệ tôm chết sớm đó là nuôi kết hợp tôm với cá rô phi. Tuy nhiên, trên thực tế phương pháp nuôi này chưa mang lại hiệu quả cao do tôm bị cá rô phi ăn thịt làm hao hụt một phần, cộng với việc cá rô phi cạnh tranh thức ăn với con tôm. Có nhiều giải pháp được đưa ra để khắc phục tình trạng trên, Trong giải pháp kỹ thuật nuôi ghép hay nuôi kết hợp, người nuôi có thể sử dụng nhiều đối tượng nuôi khác nhau nhưng có tác dụng hỗ trợ nhau như: tôm, cá, cua, tảo biển… để đưa vào mô hình nuôi. Hiện nay, trên thế giới đang áp dụng nhiều cách nuôi ghép, nuôi kết hợp như: nuôi cá trong ao lắng, nuôi cá lồng trong ao tôm, nuôi cá thả chung với tôm trong ao, hoặc mô hình kết hợp dùng nước nuôi cá rô phi để nuôi tôm, rồi lấy nước nuôi tôm để trồng rong biển. Tại Việt Nam, một số bà con nuôi tôm cũng đã dùng cá rô phi để xử lý nước trong ao lắng cung cấp nước cho ao tôm mang lại hiệu quả cao.
Đáng chú ý trong thời gian qua, mô hình nuôi ghép hay nuôi kết hợp cá rô phi với tôm đang trở nên phổ biến vì những hiệu quả thiết thực mà loài cá này mang lại cho tôm nuôi. Cá rô phi có tập tính đảo trộn các tầng nước trong ao, giúp đáy ao và nguồn nước ao nuôi tốt hơn. Cá rô phi ăn mùn bã hữu cơ trong ao, từ đó giúp giảm lượng chất thải trong ao nuôi, hạn chế sự phát triển của vi khuẩn có hại, kích thích sự phát triển các loại tảo có lợi. Ngoài ra, cá rô phi còn có tác dụng tiêu diệt một số vật chủ trung gian mang mầm bệnh và ăn cả xác tôm chết, từ đó giúp hạn chế sự lây lan mầm bệnh trong ao nuôi.
Mô hình nuôi kết hợp giữa tôm thẻ chân trắng và cá rô phi thì các yếu tố môi trường trong nước cấp cho ao nuôi tôm được đảm bảo, chất lượng nước được cải thiện, làm giảm tỷ lệ tôm chết sớm, cá rô phi giúp khống chế bệnh hoại tử gan tụy cấp ở tôm; cá rô phi cũng ngăn cản sự phát sinh mầm bệnh ở tôm; đồng thời tiết kiệm được chi phí.
I - ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC.
1. Đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng:
Chữa bệnh cho tôm thẻ chân trắng. Ảnh: pbs.twimg.com  

Hình 1: Tôm thẻ chân trắng
1.1. Đặc điểm sinh học tôm thẻ thích nghi với môi trường:
Bảng 1: Các thông số môi trường thích hợp với tôm thẻ chân trắng
TT Các chỉ tiêu Khoảng thích hợp Khoảng chịu đựng
1 Độ mặn (‰) 15 - 30 0,5 - 45
2 Nhiệt độ 25 - 32 16 - 43
3 pH 7,5 - 8,5 6 - 10
4 Độ kiềm (mg/lít) 80 -150 60 - 200
5 Oxy hòa tan (mg/lít) 4 - 7 3 -7
6 NH3 (mg/lít) < 0,1 < 0,2
7 H2S (mg/lít) < 0,01 < 0,03

- Chúng ta cần phải có lịch trình kiểm tra và quản lý các thông số về môi trường ao tôm.
- Mức nước nuôi tốt nhất từ 1,2 - 1,5 m
- Mật độ nuôi từ 80 - 200 con/m2
- Đáy ao có cát, cát bùn, đáy cứng sẽ thuận lợi cho tôm phát triển.
Bảng 2: Thời gian kiểm tra các thông số môi trường
TT Thông số Thời điểm đo
7 giờ 15 giờ
1 Độ mặn (‰) 1 tuần / lần
2 Độ kiềm 3 ngày/ lần
3 Nhiệt độ X X
4 pH X X
5 Oxy X  
6 NH3   X
7 Độ trong   X


1.2. Đặc điểm dinh dưỡng:
Tôm thẻ chân trắng là loài ăn tạp, có thể ăn loại thức ăn từ gốc động thực vật.
Thức ăn công nghiệp, nhu cầu đạm 20 - 30 % thấp hơn tôm sú 38 - 40 %, hệ số thức ăn thấp từ 0,9 - 1,2 (thông thường 1,1) so với tôm sú là 1,5 (mật độ thả 100 - 120 con/m2). Tỷ lệ sống 85%.
1.3. Đặc điểm sinh sản:
Trong điều kiện nhân tạo tôm chân trắng có thể thành thục và đẻ trứng.
1.4. Đặc điểm sinh trưởng:
Tôm thẻ chân trắng sinh trưởng thông qua quá trình lột xác, chu kỳ lột xác thông qua từng giai đoạn phát triển, tôm thẻ có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, ở giai đoạn < 20 g/ con, sau 30 ngày tăng trung bình 1 -1,4g. Từ 75 - 85 ngày, tùy theo mật độ nuôi và điều kiện nuôi có thể đạt kích cỡ 80 - 100 con/kg.
2. Đặc điểm sinh học cá rô phi:
  Thịt cá rô phi ngọt, giàu chất dinh dưỡng

Hình 2: Cá Rô phi đơn tính dòng GIFT
2.1. Đặc điểm hình thái:
Cá rô có thân hình màu hơi tím, vảy sáng bóng, có 9 - 12 sọc đậm song song nhau từ lưng xuống bụng. Vi đuôi có màu sọc đen sậm song song từ phía trên xuống phía dưới và phân bổ khắp vi đuôi. Vi lưng có những sóc trắng chạy song song trên nền xám đen. Viền vi lưng và vi đuôi có màu hồng nhạt.
2.2. Môi trường sống:
Các loài cá rô phi hiện đang nuôi có đặc điểm sinh thái gần giống nhau.
- Nhiệt độ: Nhiệt độ cần thiết cho sự phát triển của cá rô phi từ 20 - 320C, thích hợp nhất là 25 - 320C. Khả năng chịu đựng với biến đổi nhiệt độ cũng rất cao từ 8 - 420C, cá chết rét ở 5,50C và bắt đầu chết nóng ở 420C. Nhiệt độ càng thấp thì cá càng giảm ăn, ức chế sự tăng trưởng và tăng rủi ro nhiễm bệnh.
- Độ mặn: Cá rô phi là loài rộng muối, có khả năng sống được trong môi trường nước sông, suối, đập tràn, hồ ao nước ngọt, nước lợ và nước mặn có độ muối từ 0 - 40%. Trong môi trường nước lợ (độ mặn 10 - 25‰) cá tăng trưởng nhanh, mình dày, thịt thơm ngon.
- pH: Môi trường có độ pH từ 6,5 - 8,5 thích hợp cho cá rô phi, nhưng cá có thể chịu đựng trong môi trường nước có độ pH thấp bằng 4.
- Oxy hoà tan: Cá rô phi có thể sống được trong ao, đìa có màu nước đậm, mật độ tảo dày, có hàm lượng chất hữu cơ cao, thiếu Oxy. Yêu cầu hàm lượng oxy hoà tan trong nước của cá rô phi ở mức thấp hơn 5 - 10 lần so với tôm sú.
2.3. Đặc điểm dinh dưỡng:
Khi còn nhỏ, cá rô phi ăn dinh vật phù du (tảo và động vật nhỏ) là chủ yếu (cá 20 ngày tuổi, kích thước khoảng 18 mm). Khi cá trưởng thành ăn mùn bã hữu cơ lẫn các tảo lắng ở đáy ao, ăn ấu trùng, côn trùng, thực vật thuỷ sinh.
Trong nuôi công nghiệp, ngoài sử dụng thức ăn công nghiệp cá cũng ăn các loại thức ăn chế biến từ cá tạp, cua, ghẹ, ốc, bột cá khô, bột bắp, bột khoai mì, khoai lang, bột lúa, cám mịn, bã đậu nành, bã đậu phộng. Trong tự nhiên cá thường ăn từ tầng đáy có mức sâu từ 1 - 2m.
2.4. Đặc điểm sinh trưởng:
Tốc độ sinh trưởng của cá rô phi thay đổi tùy theo nhiệt độ, thức ăn và mật độ thả. Ở giai đoạn cá con, cá rô phi có tốc độ sinh trưởng khá nhanh, đạt 15 - 20 g/tháng. Trong điều kiện nuôi bình thường, từ tháng thứ 2 trở đi tốc độ sinh trưởng của cá có chậm lại, bình quân tăng 35 - 40 g/con (tháng thứ 2), 70 - 80 g/con (tháng thứ 3) và 40 - 50 g/con (tháng thứ 4). Sau 4 tháng nuôi cá có thể đạt kích cỡ 200 - 250 g/con.
II - QUY TRÌNH KỸ THUẬT NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG KẾT HỢP VỚI CÁ RÔ PHI.
1. Chọn địa điểm xây dựng ao nuôi.
- Xây dựng ao nuôi ở những vùng đã được quy hoạch.
- Nền đất xây dựng ao nuôi phải là đất thịt hoặc đất pha cát, ít mùn bã hữu cơ, có kết cấu chặt chẽ, giữ nước tốt, thuận tiện cho việc cấp và thoát nước.
- Chủ động nguồn nước cấp, không bị ô nhiễm nước thải công nghiệp, nông nghiệp và nước sinh hoạt.
- Vùng nuôi thuận lợi về giao thông, có đủ nguồn điện cung cấp và an ninh trật tự tốt.
2. Xây dựng ao nuôi.
Hệ thống ao nuôi bao gồm: Ao chứa lắng, ao nuôi và ao xử lý chất thải, cụ thể như sau:
- Ao chứa lắng: nên có diện tích chiếm 20 - 25% diện tích ao nuôi.
- Ao nuôi: có diện tích chiếm 60 - 70% tổng diện  tích mặt nước.
- Ao xử lý thải: có diện tích 10 - 15% diện tích ao nuôi.
- Ao lắng được sử dụng để nuôi cá rô phi, nước cấp cho ao nuôi tôm được lấy từ nguồn nước ao lắng có nuôi cá rô phi.
- Tùy vào điều kiện diện tích đất mà thiết kế ao nuôi cho thích hợp, tuy nhiên nên thiết kế ao nuôi có diện tích từ 1.500 - 3.000m2, chiều cao bờ từ 2 - 2,5m và mức nước đạt 1,4 - 2m.
- Thiết kế ao nuôi có dạng hình vuông hoặc hình chữ nhật, góc ao nên bo tròn.
- Rào lưới quanh ao để tránh các loài ký chủ trung gian gây bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào ao nuôi tôm.                                                          
- Đáy ao bằng phẳng và có độ nghiêng về phía cống thoát.
- Bờ ao nên lót bạt để chóng xói lở và hạn chế rò rỉ.
 3. Chuẩn bị ao nuôi
 1.1. Cải tạo ao: (ao nuôi, ao lắng)
 - Bước 1: Tháo cạn nước ao nuôi và ao lắng, sên vét làm sạch đáy ao, loại bỏ các địch  hại có trong ao từ vụ nuôi trước. Gia cố bờ ao chắc chắn, lót bạt bờ ao (nếu có) để chống xói lở và hạn chế bị rò rỉ. Rào lưới xung quanh để tránh các loài ký chủ trung gian gây bệnh từ bên ngoài. Tùy vào điều kiện, mật độ nuôi mà đáy ao có thể lót bạt nhằm hạn chế nước đục, nâng cao độ hòa tan của oxy giúp tôm tăng trưởng tốt hơn.
- Bước 2: Bón vôi đá (CaO), tùy vào điều kiện pH đất mà bón cho phù hợp theo (phụ lục 1).
* Lưu ý: Sau khi bón vôi đá (CaO), tùy vào điều kiện chất đất mà có thể bón lót thêm lượng vôi nông nghiệp CaCO3 hoặc vôi Dolomite cho phù hợp. Có thể bổ sung thêm khoáng vi lượng tác dụng làm tăng độ kiềm đối với những ao nuôi lâu năm, nghèo dinh dưỡng và dễ gây màu nước.
- Tác dụng của các loại vôi bón cải tạo ao:
+ Vôi nông nghiệp như đá vôi hay vôi sò
Chọn vôi mịn chứa hàm lượng trên 75%. Dùng để tăng hệ đệm của nước, có thể dùng số lượng lớn vì không ảnh hưởng đến pH nước. Liều 100 - 300 kg/ha/lần.
+ Đá vôi đen Dolomite CaMg (CO3):
Giúp tăng hệ đệm nước , tăng độ kiềm
+ Vôi tôi hay vôi ngậm nước Ca(OH)2:
Dùng vôi mịn từ 50 - 100 kg/ha/lần. Giúp tăng pH đáy và nước ao nuôi. Loại vôi tôi này làm tăng pH mạnh nên tránh bón vào buổi chiều khi pH thường cao. 
- Bước 3: Phơi đáy ao từ 5 - 7 ngày đến khi nứt chân chim thì tiến hành lấy nước. Đối với những ao nuôi không phơi được: bơm cạn nước, dùng máy cào chất thải về góc cuối ao, bơm chất thải vào ao chứa thải sau đó bón vôi với liều lượng như bước 2. Sau khi bón vôi xong phải cấp nước vào ao ngay để tránh hiện tượng xì phèn. Ao bị phèn không nên phơi khô để hạn chế hiện tượng xì phèn.
Bảng 3: Lượng vôi bón để cải tạo ao nuôi tôm
pH đất Vôi CaCO3 (tấn/ha) Ca(OH)2 (tấn/ha) Vôi CaO (tấn/ha)
> 7 0 0 0
6 - 7 1 – 2 0.5 – 1 0.3 - 0.5
5 - 6 2 – 3 1 - 1.5 0.5 - 1
4 - 5 3 - 3,5 1.5 – 2 1 - 1.5
3 - 4 3,5 – 4 2 - 2.5 1.5 - 2
* Đối với ao mới: Cần có thời gian ngâm rửa đáy ao từ 2 - 3 lần rồi tiến hành xử lý như các Bước 1, 2, 3.
1.2. Lấy nước và xử lý nước.
Ngồn nước cấp cho ao nuôi tôm hoàn toàn được lấy từ ao nuôi cá Rô phi
- Bước 1: Lấy nước vào ao lắng (qua túi lọc) cho đầy ao, lắng 3 - 5 ngày.
- Bước 2: Cấp nước từ ao lắng qua ao nuôi (qua túi lọc) đạt từ 1,3 - 1,4 m, tiến hành chạy quạt liên tục 3 ngày cho trứng cá và giáp xác nở.
- Bước 3: Xử lý Chlorine nồng độ 30ppm (30kg/1.000m3 nước) hoặc TCCA 20ppm (20kg/1.000m3 nước) vào buổi tối để diệt tạp và diệt khuẩn nước ao.
- Bước 4: Sau khi xử lý chlorine hoặc TCCA 7 ngày, tiến hành xử lý EDTA liều 2 - 3kg/1.000m3 nước để khử kim loại nặng và độ cứng của nước ao.
* Lưu ý: Chạy quạt liên tục trong thời gian xử lý nước để phân hủy dư lượng Chlorine có trong ao.
1.3. Gây màu nước
- Gây màu nước bằng rỉ đường + cám gạo + bột đậu nành (tỷ lệ 3:1:3) ủ trong 12 giờ. Liều lượng: 3kg/1.000 m3 nước ao, tạt liên tục 3 ngày vào lúc 9 -10 giờ sáng kết hợp với vôi Dolomite 10-15kg/m3. Khi màu nước trong ao chuyển sang màu của tảo khuê (vàng hay nâu nhạt) hay màu xanh vỏ đậu thì tiến hành sử dụng 03kg rỉ đường/100m3 nước kết hợp cấy men vi sinh rồi tiến hành thả giống.
- Đối với những ao khó gây màu nước, hay màu nước không bền nên bổ sung thêm các thành phần khoáng, tảo Silic kết hợp sử dụng dây xích kéo đáy 2 lần/ngày.
Kiểm tra và điều chỉnh các yếu tố môi trường trước khi thả tôm:
- pH: 7,5 - 8,5 ( Dao động trong ngày không quá 0,5)
- Độ kiềm: 120 - 180 mg/lít
- Độ mặn: 5 - 25‰  (tốt nhất >5‰)
- Độ trong: 30 - 40cm
- NH3 < 0,1mg/l
- H2S < 0,03 mg/l
- Hàm lượng Oxy hòa tan > 5mg/l
-   Lưu ý: chạy quạt thường xuyên vào ban ngày kích thích tảo phát triển.
4. Thiết kế, lắp đặt hệ thống quạt nước
* Vị trí đặt cánh quạt nước:
- Cách bờ 1,2 - 1,5m, khoảng cách giữa 2 cánh quạt nước từ 40 - 60 cm, lắp so le nhau. Tùy theo hình dạng ao mà bố trí cánh quạt nước tạo được dòng chảy tốt nhất, nếu mật độ nuôi > 60 con/m2 cần lắp đặt thiết bị cung cấp oxy đáy để cung cấp đủ nhu cầu oxy cho tôm nuôi.
- Số lượng cánh quạt phụ thuộc vào diện tích ao nuôi và mật độ thả nuôi. Thông thường :
     + 6.000 - 7.000 con/1 cánh quạt
     + Tốc độ quay 60 - 100 vòng/phút
* Quản lý oxy hòa tan:
Hệ thống cung cấp oxy cho tôm thẻ chủ yếu sử dụng cánh quạt nhựa và quạt lông nhím (quạt muỗng).
Ưu điểm của quạt lông nhím (quạt muỗng):
- Tạo ra oxy nhiều hơn so với cánh quạt nhựa.
-  Đưa hàm lượng oxy xuống tầng đáy sâu hơn.
Trong ao nuôi nếu kết hợp được cả 2 loại cánh quạt nhựa cánh quạt lông nhím theo tỉ lệ 1:1 là tốt nhất vì vừa tạo dòng chảy tốt để tạo vùng cho ăn và sinh hoạt sạch cho tôm, tăng khả năng cung cấp oxy hòa tan.
Lưu ý:
- Oxy hòa tan luôn đảm bảo lớn hơn 5 mg/l.
- Tháng 1: Sau khi cho ăn 1 giờ tiến hành chạy quạt.
- Tháng thứ 2 trở đi: tắt 50% hệ thống quạt nước khi cho ăn và sau 01 giờ tiến hành chạy quạt trở lại bình thường.
5. Chọn giống và thả giống
1.1. Chọn giống:
a) Chọn giống cá rô phi:
Giống cá rô phi được chọn là loại giống đơn tính, cỡ 60 - 80 con/kg, cá khỏe mạnh, đồng đều kích cỡ, màu sắc tươi sáng.
b) Chọn tôm giống:
- Chọn con giống ở các cơ sở có uy tín, có xuất xứ nguồn gốc rõ ràng.
* Chọn giống bằng cảm quan:
- Tôm có chiều dài ≥1cm, kích cỡ đồng đều, ruột đầy thức ăn, hoạt động nhanh nhẹn, không dị hình, hình dáng cân đối, không cong thân, râu thẳng kéo dài tận đuôi, có màu sáng trong, thức ăn đầy ruột.
* Chọn giống qua xét nghiệm:
Xét nghiệm tôm giống không nhiễm các bệnh đốm trắng, đầu vàng, taura, vi khuẩn Vibrio, kiểm tra dấu hiệu bất thường trên gan tụy bằng phương pháp PCR hoặc mô học.
1.2. Thả giống:
a) Thả giống cá Rô phi:
- Thả nuôi cá trước khi thả tôm 10 - 15 ngày. Giống cá rô phi được chọn là loại giống đơn tính, cỡ 60 - 80 con/kg.
- Thuần độ mặn 5 ngày trước khi thả cá.
- Mật độ thả nuôi: 2 con/m2.
2.2. Thả tôm giống:
- Mật độ thả nuôi:  100 - 200 con/ m2.
- Chạy quạt trước khi thả giống khoảng 6 giờ, để đảm bảo lượng oxy hòa tan đạt từ 5mg/l trở lên.
- Thuần tôm 30 phút sau đó tiến hành thả tôm
- Chênh lệch độ mặn giữa ao nuôi và bể tôm giống không quá 5 ‰.
- Thả tôm lúc sáng sớm hoặc chiều mát và thả hướng trên gió.
6. Chăm sóc và quản lý tôm, cá nuôi.
1.1. Cho ăn:
a) Cho tôm ăn:
Đối với tôm chân trắng tháng đầu tiên ngoài thức ăn tự nhiên thì cho tôm ăn rất quan trọng quyết định đến tỉ lệ sống, tốc độ lớn và độ đồng đều của đàn tôm.
Đa phần những hộ nuôi tôm sú khi chuyển sang nuôi tôm chân trắng thường cho tôm ăn thiếu trong tháng nuôi đầu tiên, làm cho tôm phân đàn và chậm lớn.
Những hộ mới nuôi tôm chân trắng lần đầu thì việc đánh giá tỉ lệ sống trong tháng đầu tiên tương đối khó, vì tôm chân trắng có phần mình cơ thể rất trong và giống màu nước rất khó quan sát có thể sử dụng phương pháp sau đây sẽ giúp phần nào đánh giá được tỉ lệ sống của tôm chân trắng trong tháng nuôi đầu tiên:
Sau khi thả 2 - 3 ngày dùng vó cho tôm ăn kéo vuông góc với bờ của ao nuôi từ dưới đáy lên, nếu trong vó có >15 con thì tỉ lệ sống tương đối cao.
Khi tôm được15 ngày tuổi tiến hành đặt sàng ăn và khi tôm được 25 ngày tuổi thì điều chỉnh lượng thức ăn thông qua thời gian ăn hết thức ăn trong sàng.
Để giảm chi phí nên chọn thức ăn có hệ số thấp và độ đạm thấp hơn 35%.
Cách xác định thức ăn hàng ngày :
Tổng trọng lượng = trọng lượng trung bình x số tôm thực tế trên cơ sở lượng giống thả và ước lượng tỷ lệ sống theo thời gian.       
- Tổng trọng lượng trung bình và tổng trọng lượng tôm xác định được lượng thức ăn hằng ngày. Trong tình trạng bình thường tôm cỡ 1 - 5 g cho ăn 7 - 10 % trọng lượng thân; tôm 5 - 10 g cho ăn 4 - 7% trọng lượng thân; tôm 10 - 20 g cho ăn 3 - 4% trọng lượng thân.
Tôm thẻ có tập tính kiếm ăn vào ban đêm là chủ yếu. Trong nuôi nhân tạo tôm ăn thường xuyên cả ngày lẫn đêm. Khi tôm giai đoạn 2 tháng trở lên, môi trường ao bị ô nhiễm, lượng oxy hòa tan thấp, do đó giai đoạn này chúng ta nên cho ăn vào ban ngày, ban đêm chỉ cho ăn 1 lần hoặc ngừng hẳn.
Quản lý thức ăn: Có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nuôi. Quản lý tốt làm giảm chi phí, chất lượng nước, đáy ao sạch và hạn chế dịch bệnh. Chúng ta cần làm những việc như sau:
- Giai đoạn tôm 10 ngày nên thả tôm vào sàng để làm quen
- Bỏ thức ăn trong sàng nên căn cứ vào trọng lượng tôm và kiểm tra sàng chặt chẽ.
                                         Lượng thức ăn trong ngày x % thức ăn trong sàng
Lượng thức ăn trong sàng =
                                                                       Số lượng sàng
- Việc chuyển đổi mã số thức ăn nên căn cứ vào trọng lượng để làm tiêu chuẩn, không dựa vào tuổi tôm (ngày tuổi). Trong thời gian chuẩn bị chuyển đổi nên trộn lẫn 2 loại thức ăn cho ăn ít nhất 3 ngày.
- Tôm 30 - 75 ngày tốc độ phát triển khá nhanh vì vậy có thể tăng số lần thức ăn trong ngày (5 lần/ngày) và tăng lượng thức ăn để rút ngắn thời gian nuôi.
- Khi tôm được 30 ngày tuổi, 5 - 7 ngày kiểm tra tốc độ tăng trưởng 1 lần.
- Xác định được chính xác số lượng và trọng lượng tôm trong ao.
- Theo dõi cường độ bắt mồi hàng ngày và mỗi cữ cho ăn để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.
- Theo dõi tiến độ lột xác để giảm lượng thức ăn trong giai đoạn lột xác và tăng sau khi tôm lột vỏ.
- Theo dõi sự biến động thời tiết và môi trường nuôi vì chúng ảnh hưởng đến sức khỏe tôm, nên ta điều chỉnh tăng giảm thức ăn cho phù hợp.
 - Thời gian cho tôm ăn như sau: Cho ăn mỗi ngày 4 - 5 lần:
             +  6  giờ 30 sáng: 25% lượng thức ăn.
             +  10 giờ trưa: 30% lượng thức ăn.
             +  02 giờ chiều: 30% lượng thức ăn.
             +  06 giờ đêm: 15% lượng thức ăn.
* Một số lưu ý khi cho tôm ăn:
- Cần quản lý chặt thời gian tôm ăn theo từng giai đoạn.
- Kiểm tra và điều chỉnh thức ăn trong sàng:
+ Nếu tôm ăn hết thì tăng lượng thức ăn lên 10 - 15%
+ Nếu trong sàng còn 5% thì giữ nguyên lượng thức ăn cho lần sau.
+ Nếu trong sàng còn 5 - 20% thì giảm 10 - 15% tổng lượng thức ăn cho lần sau.
- Nhiệt độ tăng hoặc giảm, trời mưa bão, thiếu oxy, pH biến động hay lúc tôm lột xác cần giảm lượng thức ăn khoảng 30 - 50% hoặc nhiều hơn.
- Dụng cụ cho ăn cần vệ sinh sạch sẽ và phơi khô sau khi cho ăn.
- Nếu tôm có dấu hiệu bệnh nên giảm hoặc ngừng cho tôm ăn, xác định nguyên nhân và đưa ra giải pháp điều trị.
b) Cho cá ăn: Thức ăn cho cá rô phi chủ yếu là thức ăn công nghiệp và thức ăn chế biến.
- Thức ăn công nghiệp: Sử dụng thức ăn viên nổi có hàm lượng đạm từ 25 - 35%.
- Thức ăn tự chế biến: Có thành phần và tỷ lệ phối trộn như sau: 10% bột cá nhạt, 30% đậu tương, 5% ngô, 55% cám gạo.
- Tỷ lệ cho ăn 3 - 5% trọng lượng cá dưới ao, cho ăn 2 lần/ngày vào 8 giờ và 16 giờ.
- Định kỳ 10 ngày kéo lưới kiểm tra tốc độ tăng trưởng của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.
- Thường xuyên quan sát mức nước trong ao để điều chỉnh kịp thời. Giai đoạn cá lớn trên 300 g/con cần theo dõi diễn biến thời tiết khí hậu để tránh cá bị nổi đầu.
- Theo dõi tình hình dịch bệnh để có biện pháp xử lý kịp thời.


1.2. Thả ghép c rô phi với tôm:
Sau thời gian nuôi tôm được 40 - 45 ngày tuổi tiến hành thả cá rô phi vào ao nuôi tôm với mật độ cá thả nuôi là 5 con/100 m2.
Gian đoạn tôm lớn tiến hành thả ghép cá rô phi vào ao nuôi tôm, lúc này cá đã lớn nên chỉ ăn thức ăn là mùn bã hữu cơ, tôm càng lớn thì lượng chất thải thải ra nhiều hơn. Cá rô phi có tập tính đảo trộn các tầng nước trong ao, giúp đáy ao và nguồn nước ao nuôi tốt hơn. Cá rô phi cũng ăn mùn bã hữu cơ trong ao, từ đó giúp giảm lượng chất thải trong ao nuôi, hạn chế sự phát triển của vi khuẩn có hại, kích thích sự phát triển các loại tảo có lợi. Ngoài ra, cá rô phi còn có tác dụng tiêu diệt một số vật chủ trung gian mang mầm bệnh và ăn cả xác tôm chết, từ đó giúp hạn chế sự lây lan mầm bệnh trong ao nuôi.
1.3. Quản lý môi trường ao nuôi:
- Trong quá trình nuôi cần quản lý các yếu tố môi trường nằm trong khoảng thích hợp để tôm phát triển tốt hơn.
-   Kiểm tra pH, độ trong  2 lần/ngày vào lúc 7 giờ sáng và 15 giờ chiều, kiểm tra độ kiềm, NH3 3 ngày/ lần để điều chỉnh cho phù hợp.
- Trong quá trình sinh trưởng, tôm chân trắng cần rất nhiều khoáng, do đó trong ao nuôi nên duy trì độ kiềm từ 120 mg/l trở lên bằng cách sử dụng vôi CaCO3 hoặc Dolomit và thường xuyên bổ sung khoáng cho ao nuôi vào ban đêm 3-5 ngày/lần giúp tôm nhanh cứng vỏ và lột xác đồng loạt.
- Định kỳ 10 - 15 ngày tiến hành bơm nước từ ao nuôi cá Rô phi vào ao nuôi (qua túi lọc), mỗi lần cấp khoảng 20% lượng nước ao nuôi, cấp vào lúc trời mát.
- Trong quá trinh nuôi tôm,  khi thấy mực nước trong ao nuôi tôm xuống thấp do rò rỉ, bốc hơi....tiến hành cấp nước từ ao nuôi cá Rô phi để bổ sung thêm nước cho ao nuôi tôm, đảm bảo mực nước theo qui định.
Sau khi bơm cấp nước từ ao nuôi cá sang ao nuôi tôm, tùy theo con nước tiến hành cấp vào ao nuôi cá để dự phòng nước đảm bảo để bổ sung cho ao nuôi tôm trong quá trình nuôi và đảm bảo để cá sinh trưởng, phát triển tốt.
 Quản lý pH và kiềm:
pH và độ kiềm là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến đời sống của tôm. Khi pH và độ kiềm tăng hay giảm ngoài khoảng thích hợp sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tôm nuôi:    
- Khắc phục pH thấp: gây tảo và giữ màu nước thích hợp đảm bảo độ trong đạt từ 30 - 40 cm. Trong quá trình nuôi nếu pH < 7,5 cần bón vôi CaO với liều 7 - 10kg/1000m3 nước.
   - Khắc phục pH cao: sử dụng mật đường 3kg/1000 m3 kết hợp sử dụng vi sinh hoặc dùng Acid acetic 3-5 kg/1000 m3 kết hợp sử dụng vi sinh.
   - Khắc phục độ kiềm thấp: sử dụng Dolomite hoặc CaCO3 với liều 15 -20kg/1000m3 vào ban đêm cho đến khi đạt yêu cầu.
- Khắc phục độ kiềm cao: thay nước kết hợp sử dụng EDTA 2-3 kg/1000 m3 vào ban đêm.
* Lưu ý: tùy vào tình hình thực tế môi trường ao nuôi mà điều chỉnh và bón lượng vôi cho phù hợp.
1.4. Quản lý sức khỏe tôm nuôi:
- Hàng ngày quan sát hoạt động bắt mồi và sức khỏe của tôm trong ao, xem biểu hiện bên ngoài của tôm thông qua màu sắc, phụ bộ, thức ăn trong ruột,…để có thể phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường kịp thời xử lý.
- Sử dụng ít nhất từ 02 sàn ăn trở lên để kiểm tra sức khỏe tôm nuôi và điều chỉnh khẩu phần ăn cho hợp lý.
- Định kỳ từ 7 - 10 ngày chài tôm để xác định tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng, sức khỏe tôm cũng như xác định trọng lượng, sản lượng tôm trong ao nhằm điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.
- Tăng cường bổ sung vitamin C, men tiêu hóa đường ruột, khoáng chất cần thiết và có thể bổ sung thêm nhóm dinh dưỡng tăng cường chức năng gan, giải độc gan trộn cho tôm ăn hàng ngày.
7. Thu hoạch
Thời gian nuôi thường khoảng 90 ngày tuổi, tùy vào thời điểm giá cả thị trường, nhu cầu của người nuôi và chất lượng ao nuôi. Khi tôm nuôi đạt trọng lượng từ 15 - 20 g/con thì có thể tiến hành thu hoạch./.
TRUNG TÂM GIỐNG THỦY SẢN NGHỆ AN

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thăm dò ý kiến

Bạn muốn biết thông tin về sản phẩm tôm giống của trung tâm?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập106
  • Hôm nay20,923
  • Tháng hiện tại364,410
  • Tổng lượt truy cập9,165,038
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây